Xơ gan là một căn bệnh cấp tiến, khó chữa và tiến triển chậm, ngầm trong nhiều năm. Các mô sẹo phát triển một cách thầm lặng đến một thời điểm nào đó thay thế các tế bào gan khỏe mạnh và làm vô hiệu hóa chức năng của gan. 

Đọc nhanh

  • Tỷ lệ sống sót của người bệnh xơ gan phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của mô sẹo.
  • Một nghiên cứu theo dõi 15 năm trên 100 người bệnh xơ gan nặng cho thấy 71% chỉ sống được thêm 5 năm sau khi chẩn đoán và số còn lại cũng chỉ có thể kéo dài thêm 10 năm nữa.
  • Người có thói quen rượu/bia liên tục và nhiều tuổi hơn có nguy cơ tử vong sớm hơn.
  • Tuy là một nghiên cứu có dữ liệu hạn chế, nhưng nó phần nào cho thấy xơ gan là một chứng bệnh có khả năng làm giảm tuổi thọ nghiêm trọng và làm suy giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Bệnh xơ gan là gì?

Xơ gan chỉ hình thành khi gan bị tổn thương liên tục kéo dài. Đó là khi các mô tế bào gan khỏe mạnh bị phá hủy dần và thay thế bằng mô sẹo, tình hình sau đó trở nên nghiêm trọng hơn, do các sẹo này ngăn chặn dòng chảy của máu qua gan.

Xơ gan là một căn bệnh cấp tiến, khó chữa và tiến triển chậm, ngầm trong nhiều năm. Các mô sẹo phát triển một cách thầm lặng đến một thời điểm nào đó làm vô hiệu hóa chức năng gan.

Triệu chứng của bệnh xơ gan

Các triệu chứng không mấy hiển nhiên trong giai đoạn đầu.

Dần hà, khi các mô sẹo tích tụ, chức năng hoạt động của gan trở nên suy yếu. Các dấu hiệu và và triệu chứng sau đây có được nhìn thấy:

  • các mao mạch máu hiện trên da ở vùng bụng trên
  • mệt mỏi
  • mất ngủ
  • da ngứa
  • ăn mất ngon
  • sụt cân
  • dễ buồn nôn
  • đau hoặc đau ở vùng gan
  • đỏ hoặc đốm đốm lòng bàn tay
  • cơ thể suy nhược

Khi bệnh tình nặng hơn, các dấu hiệu và triệu chứng sau đây tiếp tục xuất hiện:

  • tăng nhịp tim
  • thay đổi tánh tình
  • chảy máu nướu răng
  • teo cơ thân và teo cơ cánh tay trên
  • mất dần khả năng xử lý thuốc dược
  • mất khả năng giải độc rượu
  • hay bị rối trí
  • chóng mặt
  • tích tụ dịch nơi mắt cá chân, bàn chân dẫn đến sưng phù
  • rụng tóc
  • nổi hạt đớm khắp người
  • vàng da, hoặc tròng trắng mắt và lưỡi
  • mất ham muốn tình dục
  • đãng trí
  • dễ nhiễm trùng và sốt
  • chuột rút cơ bắp
  • chảy máu cam
  • đau ở vai phải
  • khó thở
  • phân đen và hắc ín, hoặc nhạt
  • nước tiểu sậm màu
  • ói ra máu
  • khó khăn khi đi lại

Mô gan từ từ bị thay thế bởi các mô sẹo xơ cứng. Các nốt sần bắt đầu hình thành tạo ra những khối u.

Nguyên nhân gây nên bệnh xơ gan

xơ gan

Bia/rượu nhiều là nguyên nhân gây xơ hóa gan

Nguyên nhân chủ yếu gây xơ gan là:

  • bia/rượu thường xuyên
  • do viêm gan B và viêm gan C
  • gan nhiễm mỡ cấp tiến lên
  • hít phải kim loại độc
  • di truyền từ cha/mẹ

Cùng với nhau, viêm gan B và C được cho là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bệnh xơ gan.

Thường xuyên uống quá nhiều bia/rượu

Độc tố, bao gồm có cả trong bia/rượu, được phân hủy bởi gan. Nhưng khi bạn nốc quá nhiều, lúc ấy gan sẽ quá tải dẫn đến tổn thương các tế bào gan.

Nhất là đối với dân bợm, dân có đô bia/rượu “không đáy”, nguy cơ xơ gan đối với nhóm này sẽ cao hơn nhiều so với người bình thường. Tuy nhiên, chí ít cũng cần 10 năm bia/rượu thì gan mới xơ hóa.

Ba giai đoạn phổ biến của bệnh gan liên quan đến bia/rượu:

  1. Gan nhiễm mỡ: bia rượu nhiều dẫn đến tích tụ chất béo trong gan.
  2. Viêm gan: là lúc các tế bào gan không kham nổi các độc tố dẫn đến bị sưng.
  3. Xơ gan: khoảng 10-15% người nghiện bia/rượu nặng bị xơ gan.

Viêm gan

Viêm gan C, một bệnh do nhiễm trùng máu, có thể làm tổn thương gan và cuối cùng dẫn đến xơ gan. Viêm gan C là nguyên nhân phổ biến gây xơ gan ở Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới.

Ngoài ra, viêm gan B và D (hiếm gặp) cũng là tác nhân gây xơ gan.

Viêm gan nhiễm mỡ không do rượu (NASH)

Gan nhiễm mỡ không do bia/rượu là một tác nhân khác gây xơ gan. Ban đầu, chất béo tích tụ nhiều (mỡ gan cao), lâu dần gây ra viêm và các mô sẹo, sau cùng dẫn đến xơ cứng gan.

Nhóm có rủi ro bị NASH cao gồm: béo phì, tiểu đường, mỡ máu cao và bệnh nhân tăng huyết áp.

Viêm gan tự miễn

Đây là một dạng rối loạn miễn dịch khi đôi lúc hệ thống miễn dịch cơ thể quay lại tấn công một hoặc có thể cùng lúc nhiều hơn các cơ quan khác do phát hiện chất lạ. Khi gan bị tấn công, khả năng dẫn đến xơ gan là có.

Do di truyền

Có một số trường hợp do di truyền gây xơ gan, bao gồm:

  • Sắt tích tụ trong gan và các bộ phận khác của cơ thể (Hemochromatosis)
  • Đồng tích tụ trong gan và các bộ phận khác của cơ thể (Wilson’s disease)

Nghẽn ống dẫn mật

Một số bệnh tật, như ung thư ống dẫn mật, hoặc ung thư tuyến tụy, lúc này ống dẫn mật bị tắc nghẽn làm tăng nguy cơ xơ gan.

Hội chứng Budd-Chiari

Bệnh máu đông đóng cục trong tĩnh mạch gan, mạch máu dẫn máu từ gan. Khi hiện tượng này xảy ra, kích thước gan phình to làm phát sinh các mạch bên sau đó xơ hóa gan.

Những chứng bệnh khác có khả năng gây xơ gan

  • xơ nang
  • viêm đường mật xơ cứng nguyên phát, hoặc xơ cứng, mô sẹo nơi ống dẫn mật
  • mất chất năng tách đường trong sữa
  • sán máng, một loại ký sinh trùng thường thấy ở một số quốc gia đang phát triển
  • ống dẫn mật hẹp/dị dạng/bất thường ở trẻ sơ sinh
  • mất/kém chức năng lưu trữ và giải phóng năng lượng cho hoạt động của tế bào

Chẩn đoán xơ gan

xơ gan

Thử máu là một trong những phương pháp chính để chẩn đoán bệnh xơ gan

Do xơ gan ít xuất hiện triệu chứng cụ thể ở giai đoạn sớm, nên thường thì nó chỉ được phát hiện khi người bệnh xét nghiệm hoặc chẩn đoán cùng với một số căn bệnh khác.

Nếu thấy bất kỳ các triệu chứng nào dưới đây, nên ngay lập tức đến gặp bác sĩ:

  • sốt rùng mình
  • khó thở
  • nôn ra máu
  • phân có màu tối hoặc hắc ín
  • liên tục thấy choáng hoặc rối loạn thần kinh

Trong lúc khám và cảm nhận vùng bụng, bác sĩ sẽ xác định được liệu gan bệnh nhân có đang phình to hơn mức bình thường hay không. Cùng lúc, lịch sử bệnh và lối sống cũng giúp bác sĩ quyết định khả năng cần thiết phải xét nghiệm của người bệnh.

Các phương pháp chẩn đoán xơ gan:

  • Xét nghiệm máu: thử máu cho biết mức độ hoạt động của chức năng gan.
    Nếu nồng độ alanine transaminase (ALT) và aspartate transaminase (AST) cao, bệnh nhân có thể bị viêm gan.
  • Chẩn đoán hình ảnh: Siêu âm, chụp CT, hoặc MRI cho biết gan có phình to hơn mức bình thường hay không và cùng lúc phát hiện được mô sẹo/nút sần.
  • Sinh thiết gan: một mẫu nhỏ của tế bào gan được chiết xuất và soi dưới kính hiển vi giúp xác nhận được gan có đang bị xơ cứng hóa và nguyên nhân gây cứng.
  • Nội soi: một thiết bị y tế dạng ống nhỏ mãnh có gắn máy quay được luồng qua thực quản vào dạ dày. Cách này giúp phát hiện mạch máu sưng, một dấu hiệu nhận biết xơ gan.

Bệnh xơ gan có mấy giai đoạn?

Xơ gan được chia thành 4 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Xơ gan cấp độ 1 hay còn gọi là xơ gan f1, biểu hiện bệnh lý mờ nhạt. Các mô sẹo xơ hóa mới bắt đầu hình thành có thể gây nên những triệu chứng như mệt mỏi, sụt cân, buồn nôn, chán ăn, rối loạn tiêu hóa thông thường.

Giai đoạn 2: Xơ gan cấp độ 2, xơ gan f2, các mô sẹo xuất hiện nhiều hơn, các mô gan bị hư hỏng tạo thành các mô liên kết dư thừa. Lượng tế bào mô xơ tăng lên làm suy yếu chức năng gan. Độc tố ứ đọng, không được triệt khử khiến các cơ quan khác bị vạ lây, làm rối loạn chuyển hóa của cơ thể. Triệu chứng nhìn thấy điển hình là vàng da.

Giai đoạn 3: Xơ gan cấp độ 3, xơ gan độ f3, gan đã tổn hư một phần chức năng bởi lượng tế bào gan lúc này bị thay thế bằng các mô xơ hóa. Độ xơ hóa gan f3 cao hơn nhiều so với f2. Đến độ này, gan đã bị tước đi hầu hết các chức năng vốn có. Giờ đây, người bệnh mệt mỏi, suy yếu, tay chân phù nề.

Giai đoạn 4: Xơ gan cấp độ 4, xơ gan f4 là giai đoạn cuối, gan mất hoàn toàn chức năng, khả năng giải độc là không còn, diễn biến ngày một tệ hơn. Việc điều trị ở giai đoạn này chỉ là cầm chừng, hạn chế bệnh tiến triển. Đây là giai đoạn nguy hiểm nhất.

Bất chấp việc được chia thành bao nhiêu giai đoạn đi chăng nữa, xơ gan thường đã được ví như là giai đoạn cuối của bệnh gan rồi.

Biến chứng của xơ gan

Xơ gan có thể biến chứng thành nhiều căn bệnh, một trong số đó có khả năng đe dọa tính mạng.

Xơ gan cổ trướng: dịch tích tụ ở vùng bụng/chân, được đối ứng điều trị bằng chế độ ăn ít muối và dùng thuốc dạng lỏng. Trong trường hợp nặng, dịch phải được hút ra thường xuyên, hoặc đôi lúc phải phẫu thuật.

Giãn và tăng huyết áp tĩnh mạch cửa: tình trạng sưng các tĩnh mạch trong thực quản và dạ dày dẫn đến tăng huyết áp, khi tệ hơn chúng bị ngắt hoàn toàn dẫn đến vỡ hoặc vỡ mạch làm mất máu hoặc gây đông máu cục nghiêm trọng.

Bệnh não gan: khi gan mất dần chức năng lọc máu, các độc tố di chuyển theo huyết thanh lên vùng não phá hủy các tế bào não.

Ung thư biểu mô tế bào gan: đây là loại ung thư gan phổ biến nhất, nguyên nhân gây ung thư hàng đầu thứ ba trên toàn cầu.

Hội chứng Hepatopulmonary (HPS): là sự kết hợp giữa bệnh gan, mạch máu giãn nở trong phổi, và hoạt động bất thường của việc trao đổi khí. Biến chứng này làm tăng tỷ lệ tử vong nhiều nhất trong khi người bệnh chờ ghép gan.

Rối loạn đông máu: xơ gan có thể gây đông máu, dẫn đến xuất huyết nội và máu đóng cục, có thể gây tử vong bất cứ lúc nào.

Cách phòng bệnh xơ gan

Hàng ngày hay hàng tuần, nên hạn chế lượng rượu/bia. Để biết được uống thế nào là chừng mực, vui lòng tham khảo thông tin từ Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh.

Đối với người bệnh xơ gan, việc cai hẳn rượu/bia là tối cần thiết nếu không muốn bệnh tiếp tục tiến triển.

Ngoài ra, để phòng tránh bệnh viêm gan B và C, hãy chắc chắn bạn thực hiện các biện pháp phòng ngừa sau đây:

  • Sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục
  • Không dùng chung kim tiêm
  • Người có nguy cơ nhiễm viêm gan B, nhất là nhân viên y tế, nên tiêm phòng vác-xin

Khi đến một giai đoạn nhất định, xơ gan trở thành căn bệnh “một chiều”, không còn khả năng chạy chữa. Vì thế, phòng bệnh được coi là hình thức điều trị sáng suốt nhất.

Nếu bạn có nhu cầu muốn mua bao cao su, đây là sản phẩm đề xuất đã nhận được hàng trăm lượt đánh giá tốt.

Cách điều trị xơ gan

Khi xơ gan được phát hiện/chẩn đoán sớm, thiệt hại có thể giảm thiểu nhiều. Phương pháp điều trị xơ gan đối ứng xoay quanh nguyên nhân cốt rễ hoặc xử lý các biến chứng theo từng trường hợp cụ thể.

Nguyên nhân do rượu/bia: Trên hết, bệnh nhân nên dừng bia/rượu ngay khi phát hiện xơ gan. Liệu trình điều trị thích hợp để chữa trị xơ gan do bia/rượu gây ra sẽ được bác sĩ áp dụng sau đó.

Nguyên nhân do viêm gan B hoặc C: Bệnh nhân được kê thuốc tương thích để kiểm soát cải thiện tình trạng tổn thương tế bào gan do viêm gan cấu thành.

Kiểm soát huyết áp tại tĩnh mạch cửa: Xơ gan gây ra tình trạng ứ máu ở tĩnh mạch cửa, mạch dẫn máu chính vào gan, dẫn đến tăng huyết áp người bệnh. Thuốc kê toa tập được ứng dụng tập trung phụ trách giảm huyết áp cho các mạch máu.

Giãn tĩnh mạch thực quản: Giãn tĩnh mạch thực quản có nhiều nguyên do, chủ yếu từ xơ gan.

  • Có đến 50% người mắc bệnh xơ gan bị giãn tĩnh mạch thực quản.
  • Tĩnh mạch thực quản sẽ bị vỡ khi biến chứng nặng.
  • Tỷ lệ tử vong lên đến 40 – 70%.

Giãn tĩnh mạch thực quản gây nôn máu, các biện pháp cấp cứu nên được áp dụng ngay. Quy trình thường được bác sĩ áp dụng như sau:

  1. Một dải băng nhỏ được sử dụng thắt xung quanh gốc tĩnh mạch giãn để giúp cầm máu.
  2. Tiêm xạ trị liệu: khi nội soi phát hiện huyết khối, bác sĩ tiêm thuốc trực tiếp vào tĩnh mạch giãn, giúp ngăn chặn tình trạng chảy máu.
  3. Mặt khác, khi kỹ thuật nội soi vẫn chưa mang lại hiệu quả, bóng Sengstaken-Blakemore sẽ tiếp tục được bác sĩ áp dụng. Bóng được đặt ở cuối ống nội soi, đi xuống cổ họng vào dạ dày. Khi đến điểm mục tiêu, bóng được bơm khí phồng tạo áp lực lên các tĩnh mạch và làm ngưng tình trạng máu chảy.

Phương pháp xử lý các biến chứng còn lại:

Nhiễm trùng: Bệnh nhân được cung cấp thuốc kháng sinh.

Sàng lọc ung thư gan: Xét nghiệm máu và chẩn đoán hình ảnh thường xuyên.

Bệnh não gan, hoặc nồng độ độc tố trong máu cao: Cấp phát thuốc kiểm soát độc tố cao quá mức trong máu.

Trong một số trường hợp, tổn thương do xơ gan gây ra là không thể chữa khỏi. Lúc này, người bệnh cần được cấy ghép một lá gan khác. Đây luôn là giải pháp cuối cùng vì thời gian chờ đợi được cấp ghép gan tương đối dài do phải tìm một lá gan thích hợp.

Vai trò của thực phẩm chức năng

Thực phẩm chức năng (TPCN) vốn được sử dụng phổ biến tại các nước phát triển như Nhật Bản, Mỹ…và đang dần phổ biến tại Việt Nam trong những năm gần đây. Khái niệm và gíá trị của thực phẩm chức năng là gì?

Nguồn dinh dưỡng mỗi ngày

Đúng như tên gọi, thực phẩm chức năng không có giá trị chữa bệnh, cũng như không hề mang đến hiệu quả tức thời. Tuy nhiên, như bữa ăn hằng ngày, TPCN cung cấp nguồn dinh dưỡng đều đặn cho cơ thể.

Để đạt đượchiệu quả tối ưu, người dùng cần xác định mục đích sử dụng, tìm hiểu kỹ nguồn gốc và phân loại của TPCN theo mục đích sử dụng.

Cụ thể, TPCN hiện được chia thành 2 nhóm:

  • Nhóm thực phẩm với chức năng dinh dưỡng (Foods with Nutrient Function Claims)
  • Nhóm thực phẩm hỗ trợ tình trạng sức khoẻ đặc biệt (Foods for Specified Health Uses)

Chỉ sử dụng TPCN theo đúng khuyến cáo và công dụng trên bao bì sản phẩm là cách tốt nhất để tránh các hệ luỵ không đáng có từ những “lầm tưởng”về vai trò của TPCN.

Bổ sung dưỡng chất cần thiết cho cơ thể

TPCN bổ sung vi dưỡng chất cần thiết mà dinh dưỡng trong chế độ ăn uống hàng ngày chưa cung cấp đủ cho cơ thể.

Lấy ví dụ, mỗi ngày, cơ thể cần cung cấp 15mg vitamin E, tương đương với việc ăn 3kg trái cà chua (100g cà chua cung cấp 0.54mg vitamin E). Việc tiêu thụ 3kg cà chua mỗi ngày là ngoài sức tưởng tượng và khả năng của con người, mặc dù ngoài cà chua, bạn vẫn bổ sung thêm một số loài rau quả khác.

Với sự ra đời của TPCN, giờ đầy bạn hoàn toàn giải quyết bài toán vitamin nói riêng và dinh dưỡng nói chung một cách tiện lợi và dễ dàng.

Hạn chế vi chất thừa đến từ nguồn thực phẩm hàng ngày

TPCN còn giúp hạn chế những vi chất thừa thông qua chế độ ăn uống.

Quay lại ví dụ cung cấp vitamin E bằng cà chua ở trên, nếu bạn cung cấp đủ 3kg cà chua mỗi ngày thì bên cạnh 3kg cà chua ra, với hiện trạng vệ sinh an toàn thực phẩm hiện tại, họ còn có thể đưa vào cơ thể 1 hàm lượng các tạp chất khác, tiềm ẩn nguy cơ bệnh tật về lâu dài.

Vì thế, chọn lựa TPCN minh bạch, từ nông trại đến tay người tiêu dùng là cách hữu hiệu để bạn hạn chế nguy cơ tiềm ẩn từ nguồn thực phẩm không rõ nguồn gốc.

Giảm thiểu chi phí y tế

Theo báo cáo của một tổ chức nghiên cứu về TPCN tại Anh, năm 2001, sau khi sử dụng một loại TPCN (stenol nguồn gốc thực vật) làm giảm loại choresterol LDL (low-density lipoprotein cholesterol) trong máu (ở mức 14%) với liều sử dụng 2-3 g/ ngày trong 5 năm, số bệnh nhân mắc bệnh tim ở Anh đã giảm xuống 250.000 và tiết kiệm 433 triệu bảng Anh cho hệ thống chăm sóc sức khoẻ tại quốc gia này.

Có thể thấy, bên cạnh việc giúp nâng cao sức khoẻ người sử dụng, TPCN còn giúp hạn chế chi phí y tế. Tại Việt Nam, hiện chưa có một khảo sát trên diện rộng về hiệu quả của TPCN như ở Anh, nhưng có thể “nhẩm tính”được con số này thông qua vài ví dụ đơn giản. Cụ thể, trung bình, người Việt Nam sống đến năm 70 tuổi.

Tuổi già thường kéo theo bệnh tật, đến 60 tuổi, một người bình thường sẽ mắc phải một số bệnh tuổi già như cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, cũng như các biến chứng khác về mắt, thận… Chi phí khám chữa bệnh từ năm 60-70 tuổi là khá tốn kém.

Tuy nhiên, nếu người tiêu dùng duy trì thói quen dinh dưỡng lành mạnh, kết hợp rèn luyện sức khoẻ phù hợp và sử dụng TPCN đúng cách, họ có thể rút ngắn thời gian bệnh tật xuống, cụ thể hơn, đến 65 tuổi hoặc 68 tuổi họ mới đối mặt với các bệnh về tuổi già.

Như vậy, người ấy sẽ được tiết giảm đến 2 đến 5 năm chi phí thăm khám y tế. Rõ ràng, bên cạnh việc cung cấp đầy đủ dưỡng chất cần thiết cho cơ thể, thông qua TPCN, người sử dụng còn tiết kiệm một khoản chi phí y tế đáng kể.

Kiểm duyệt bởi Bs. Trần Đức Thắng
Nội dung được biên tập theo hướng xác thực, không thiên vị, căn cứ vào các bằng chứng khoa học liên quan và được kiểm duyệt bởi chuyên gia.

Các dẫn chứng khoa học là những liên kết trực tiếp, hoặc được đánh số dưới dạng (1) (2), hoặc tổng hợp lại vào một mục phía dưới cùng của bài viết mang tên “TÀI LIỆU THAM KHẢO”.

NỘI DUNG CÙNG CHUYÊN MỤC

viêm gan A

Viêm gan A: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Viêm gan A là căn bệnh nhiễm trùng virút HAV dẫn đến viêm gan. Viêm gan A không gây viêm mạn tính và ít gây ra tổn thương nào nghiêm trọng đến gan.
Đọc thêm
bệnh viêm gan là gì

Viêm gan: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Viêm gan là tình trạng nhiễm trùng dẫn đến tổn thương gan. Viêm gan có nhiều loại, điển hình như viêm gan A, viêm gan B,... Các biểu hiện về triệu chứng của viêm gan là khá giống nhau.
Đọc thêm
gan nhiễm mỡ

Gan nhiễm mỡ: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Gan nhiễm mỡ xảy ra do tình trạng ứ đọng mỡ dẫn đến mật độ mỡ cao trong gan. Có 2 loại: Gan nhiễm mỡ do cồn hoặc không do cồn.
Đọc thêm
Chức năng của gan

Chức năng của gan, các bệnh lý và cách nuôi dưỡng

Chức năng của gan bao gồm loại bỏ độc tố, làm sạch máu, tổng hợp protein và sản xuất mật giúp tiêu hóa thức ăn. Ngoài ra, gan còn thực hiện hơn 500 chức năng lớn bé khác nhau.
Đọc thêm
Bệnh viêm gan B

Viêm gan B: Nguyên nhân, triệu chứng và điều trị

Viêm gan B là bệnh nhiễm trùng gan do siêu vi khuẩn HBV gây ra, là căn bệnh ác tính và hủy hoại trực tiếp tế bào gan, lâu ngày dẫn đến suy gan, xơ gan và ung thư gan.
Đọc thêm

NỘI DUNG CÙNG CHUYÊN MỤC

Viêm gan A: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

viêm gan A
Viêm gan A là căn bệnh nhiễm trùng virút HAV dẫn đến viêm gan. Viêm gan A không gây viêm mạn tính và ít gây ra tổn thương nào nghiêm trọng đến gan.
Đọc thêm

Viêm gan: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

bệnh viêm gan là gì
Viêm gan là tình trạng nhiễm trùng dẫn đến tổn thương gan. Viêm gan có nhiều loại, điển hình như viêm gan A, viêm gan B,... Các biểu hiện về triệu chứng của viêm gan là khá giống nhau.
Đọc thêm

Gan nhiễm mỡ: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

gan nhiễm mỡ
Gan nhiễm mỡ xảy ra do tình trạng ứ đọng mỡ dẫn đến mật độ mỡ cao trong gan. Có 2 loại: Gan nhiễm mỡ do cồn hoặc không do cồn.
Đọc thêm

Chức năng của gan, các bệnh lý và cách nuôi dưỡng

Chức năng của gan
Chức năng của gan bao gồm loại bỏ độc tố, làm sạch máu, tổng hợp protein và sản xuất mật giúp tiêu hóa thức ăn. Ngoài ra, gan còn thực hiện hơn 500 chức năng lớn bé khác nhau.
Đọc thêm

Viêm gan B: Nguyên nhân, triệu chứng và điều trị

Bệnh viêm gan B
Viêm gan B là bệnh nhiễm trùng gan do siêu vi khuẩn HBV gây ra, là căn bệnh ác tính và hủy hoại trực tiếp tế bào gan, lâu ngày dẫn đến suy gan, xơ gan và ung thư gan.
Đọc thêm