bởi Ban biên tập VMN   |   28-11-2018

kiểm duyệt bởi Chuyên Gia

Căn cứ khoa học
Căn cứ khoa học

Trầm cảm là loại bệnh tâm thần có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của người mắc bệnh. Tâm trạng buồn bã kéo dài, bi quan và không còn hứng thú với các hoạt động hàng ngày là những cảm giác trầm cảm điển hình. Ngoài những ảnh hưởng về tâm lý, trầm cảm còn gây ra những đau đớn thể chất, thay đổi thói quen ăn uống hay làm rối loạn giấc ngủ của người bệnh.

Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh (CDC) từng công bố có gần 10% người trưởng thành từ độ tuổi 40 đến 59 bị trầm cảm trong giai đoạn 2009 – 2012.

Các triệu chứng và nguyên nhân dẫn đến trầm cảm của mỗi người có thể khác nhau, đồng thời mức độ ảnh hưởng và cảm giác trầm cảm cũng có sự khác biệt ở nam và nữ giới.

Mô tả cảm giác trầm cảm

cảm giác trầm cảm

Rất khó để một người bình thường có thể hiểu được cảm giác trầm cảm thực sự là như thế nào

Rất dễ nhầm lẫn giữa cảm giác trầm cảm và tâm trạng buồn chán. Mặc dù, buồn bã thuộc một trong những cảm giác trầm cảm phổ biến, nhưng nó là cảm xúc nhẹ hơn nhiều do các sự kiện trong cuộc sống mang lại.

Dưới góc độ chuyên môn, các triệu chứng trầm cảm có thể kéo dài trong nhiều tháng hoặc nhiều năm, gây ra những khó khăn cho người bệnh trong cuộc sống thường nhật.

Tệ hơn nữa, nó khiến người bệnh có cảm giác tuyệt vọng và không muốn tiếp tục cuộc sống.

Trầm cảm có thể làm gián đoạn sự nghiệp, hủy hoại các mối quan hệ và mất dần khả năng thực hiện các công việc mỗi ngày như làm việc nhà hay thậm chí chỉ đơn giản là tự chăm lo cho bản thân.

Các bác sĩ thường theo dõi các triệu chứng kéo dài trong ít nhất 2 tuần để đi đến kết luận trầm cảm.

Theo các chuyên gia tâm lý, cảm giác trầm cảm được mô tả như sau:

  • Tắt hẳn niềm vui trong cuộc sống: Người bị trầm cảm mất khả năng tìm thấy niềm vui với những hoạt động mà trước đây đã từng giúp họ cảm thấy hạnh phúc.
  • Khả năng tập trung giảm sút: Gặp khó khăn trong việc đưa ra quyết định, tập trung đọc sách hay xem chương trình truyền hình.
  • Cảm thấy mọi thứ đều bế tắc: và không có cách nào để vui trở lại.
  • Đánh giá thấp giá trị bản thân: Cảm thấy bản thân không có giá trị, thường sống trong những suy nghĩ tiêu cực và không thể nhìn thấy mặt tốt của mọi vấn đề.
  • Gặp những vấn đề liên quan đến giấc ngủ: Một số người mất ngủ thường xuyên tỉnh giấc trong khi số khác lại ngủ quá nhiều nhưng vẫn không xua đi cảm giác mệt mỏi.
  • Thể lực giảm sút: Cảm giác mệt mỏi đuối sức khiến người bệnh không thực hiện được các công việc đơn giản.
  • Ăn không ngon miệng: Người bị trầm cảm cảm giác không còn muốn ăn bất cứ gì và xem các bữa ăn như một cực hình dẫn đến tình trạng sụt cân trầm trọng.
  • Chế độ ăn uống không lành mạnh: Cũng tồn tại một số trường hợp ăn quá nhiều như một cách để giải tỏa tâm trạng và dẫn đến tăng cân.
  • Đau nhức: một số người bị đau đầu, buồn nôn, đau nhức cơ thể và các cơn đau khác.

Đa số người hiểu lầm một cách nghiêm trọng rằng trầm cảm là một dạng lựa chọn cảm xúc, rằng tự thân người bệnh phải biết cách vực dậy bản thân. Người thân và bạn bè thường bị thất vọng hoặc không hiểu tại sao họ lại không thể hành xử một cách tích cực.

Nhưng thực tế là, trầm cảm là một căn bệnh tâm thần đúng nghĩa. Những người bị trầm cảm “không thể hay nói cách khác là mất khả năng” tự mình quyết định ngừng cảm giác trầm cảm, chán nản. Đó chính là sự khác biệt to lớn so với những nỗi buồn thông thường.

Nguyên nhân thường gặp và các yếu tố dẫn đến trầm cảm

Các chuyên gia cho biết rằng những yếu tố sau đây có thể là nguyên nhân tạo ra những cảm giác trầm cảm kinh niên:

  • Yếu tố di truyền: Trầm cảm và rối loạn lo âu có thể có nguồn gốc từ di truyền
  • Các sự kiện trong cuộc sống: Những biến cố lớn trong cuộc sống có thể gây ra bệnh trầm cảm, ví dụ như ly hôn, mất mát người thân, bất mãn trong công việc hoặc các vấn đề tài chính
  • Biến đổi nội tiết tố: Sự thay đổi cảm xúc, đặc biệt thường xảy ra ở giai đoạn thai kỳ, sau sinh, mãn kinh hay hội chứng tiền kinh nguyệt
  • Ảnh hưởng từ bệnh lý: Lo lắng về bệnh tật hay bệnh tật kéo dài, ví dụ như bệnh tiểu đường hay bệnh tim có thể khiến một người có tâm trạng từ bình thường chuyển sang trầm cảm
  • Lạm dụng chất kích thích: Việc lạm dụng ma túy và rượu/bia là một tác nhân khác gây ra bệnh trầm cảm
  • Tác dụng phụ của một số thuốc đặc trị: Một số loại thuốc kê đơn có khả năng làm tăng nguy cơ trầm cảm, chẳng hạn như một số loại thuốc dùng điều trị huyết áp cao, steroid, và một số loại thuốc ung thư

Trầm cảm ở nữ giới

cảm giác trầm cảm

Quan hệ đôi lứa thường là nguyên nhân chính khiến phụ nữ trầm cảm

Nghiên cứu cho thấy rằng nguyên nhân dẫn đến cảm giác trầm cảm có thể khác nhau giữa nam nữ giới. Các nhà khoa học cho rằng điều này là do: yếu tố sinh học, văn hóa hay sự khác biệt về trải nghiệm sống.

Một nghiên cứu về hai anh chị em sinh đôi được xuất bản trong tạp chí The American Journal of Psychiatry cho thấy rằng tính cách và các mối quan hệ cá nhân khác nhau ở mỗi người có nhiều khả năng đóng một vai trò trong sự khởi đầu của bệnh trầm cảm. Đặc biệt, nghiên cứu nói rằng vấn đề hôn nhân, mối quan hệ với cha mẹ và thiếu sự hỗ trợ từ xã hội có nhiều khả năng gây ra trầm cảm ở phụ nữ hơn so với nam giới.

Ngoài ra, một nghiên cứu khác được đăng trên tạp chí Journal of Affective Disorders cũng phát hiện rằng các triệu chứng trầm cảm của mỗi người phụ nữ là khác nhau. Cùng với đó, họ cũng chỉ ra rằng khả năng tăng cân ở bệnh nhân nữ trầm cảm cũng cao hơn và họ dễ buồn ngủ hơn so với nam giới.

Bên cạnh đó, sự biến đổi nội tiết tố ở phụ nữ cũng là một tác nhân lớn khiến họ dễ trầm cảm hơn. Nghiên cứu về mối liên hệ này tiết lộ rằng:

  • Những cô gái có tiền sử gia đình mắc bệnh trầm cảm có nguy cơ trầm cảm hơn vào độ tuổi dậy thì
  • Phụ nữ bị trầm cảm có cảm giác trầm cảm nghiêm trọng hơn trong giai đoạn tiền kinh nguyệt của chu kỳ, ngay cả khi đang dùng thuốc chống trầm cảm
  • Cứ 7 phụ nữ thì có 1 người mắc trầm cảm sau sinh
  • Trong thời kỳ tiền mãn kinh, nguy cơ trầm cảm ở phụ nữ tăng lên, cao gấp 2-3 lần trong thời gian này, ngay cả khi họ chưa từng bị trầm cảm trong quá khứ

Trầm cảm ở nam giới

cảm giác trầm cảm

Đối với đàn ông, sự nghiệp không như ý là nguyên nhân phổ biến khiến họ trầm cảm

Một nghiên cứu trên tạp chí The American Journal of Psychiatry cho thấy nam giới có nhiều khả năng mắc bệnh trầm cảm do những nguyên nhân sau đây: lạm dụng ma túy, từng bị lạm dụng tình dục thời thơ ấu, tiền sử mắc trầm cảm và các sự kiện tiêu cực trong cuộc sống.

Nghiên cứu cũng cho rằng nam giới dễ bị trầm cảm mỗi khi thất bại trước những mục tiêu trong cuộc sống, từ đó hạ thấp giá trị bản thân.

Các vấn đề về tài chính, pháp lý, nghề nghiệp gây ra cảm giác trầm cảmnhiều hơn ở nam giới. Đặc biệt, thất nghiệp sẽ khiến người đàn ông lo lắng khi không còn là trụ cột kinh tế cho gia đình, do đó làm gia tăng cảm xúc tiêu cưc.

Các triệu chứng trầm cảm ở nam giới cũng có sự khác biệt. Một phân tích trong JAMA Psychiatry thấy rằng đàn ông dễ bị tức giận và kích nộ bởi các va chạm, hay trải nghiệm các hành vi được họ xem là mạo phạm.

Mặc dù người ta thường nghĩ rằng nữ giới dễ mắc trầm cảm hơn nam giới nhưng nghiên cứu cho thấy khả năng bị trầm cảm ở cả hai nhóm giới tính là như nhau.

Mức độ thành thật về việc bộc lộ cảm xúc khi tham gia tư vấn liệu góp phần quyết định tăng tính chuẩn xác trong chẩn đoán bệnh.

Một cách bản năng, phái mạnh quan điểm rằng những biểu hiện cảm giác trầm cảm như buồn bã, thất vọng, hay khóc là những đặc điểm yếu đuối không nên có của người đàn ông.

Họ khép mình, kìm nén cảm xúc hơn, nhất là khi cần phải khóc. Họ luôn cố gắng tỏ ra mạnh mẽ ở mọi tình huống, khiến các chuyên gia tâm lý gặp không ít khó khăn để chỉ ra các biểu hiện cảm giác trầm cảm ở họ.

Khi nào thì cần sự tư vấn chuyên môn

Trầm cảm là căn bệnh ngấm ngầm và nguy hiểm, nếu không kịp thời điều trị có khả năng tạo ra những tác động tiêu cực ảnh hưởng đến chất lượng của cuộc sống.

Bất cứ một cá nhân nào bị tình nghi trầm cảm cần nên tìm kiếm sự trợ giúp y tế. Bằng những phương pháp trị liệu rối loạn tâm thần chuyên môn, các chuyên gia đưa ra phác đồ điều trị có thể giúp người bệnh thoát dần những cảm giác trầm cảm và tìm lại niềm vui trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.

Trong trường hợp nghiêm trọng, trầm cảm có thể làm nảy sinh ý định tự tử hoặc làm tổn hại thân thể. Khi ở vào trạng thái hoảng loạn tâm thần, người bệnh cần nhận được trợ giúp chuyên môn khẩn cấp để quán triệt những khả năng tồi tệ nhất có thể xảy ra.

Altemusa, M., Sarvaiyac, N., & Eppersond C. (2014, August). Sex differences in anxiety and depression clinical perspectives. Frontiers in Neuroendocrinology, 35(3), 320-330. Retrieved from http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S009130221400051X

Cohen, L. S., Soares, C. N., & Vitonis, A. F. (2006, April). Risk for new onset of depression during the menopausal transition: The harvard study of moods and cycles. Archives of General Psychiatry, 63(4), 385-390. Retrieved from http://jamanetwork.com/journals/jamapsychiatry/fullarticle/209471

Depression. (2017, August). Retrieved from http://www.nami.org/Learn-More/Mental-Health-Conditions/Depression

Depression. (2018, February). Retrieved from https://www.nimh.nih.gov/health/topics/depression/index.shtml

Kendler, K. S., & Gardner, C. O. (2014, April). Sex differences in the pathways to major depression: A study of opposite-sex twin pairs. American Journal of Psychiatry, 171(4), 426-435. Retrieved from http://ajp.psychiatryonline.org/doi/full/10.1176/appi.ajp.2013.13101375

Martin, L. A., Neighbors, H. W., & Griffith, D. M. (2013, October). The experience of symptoms of depression in men vs women: Analysis of the national comorbidity survey replication. JAMA Psychiatry, 70(10),1100-1106. Retrieved from http://jamanetwork.com/journals/jamapsychiatry/fullarticle/1733742

National Suicide Prevention Lifeline. (n.d.). Retrieved from https://suicidepreventionlifeline.org/

Pratt, L. A., & Brody, D. J. (2015, November 6). Depression in the U.S. household population, 2009–2012. Retrieved from http://www.cdc.gov/nchs/data/databriefs/db172.htm

Schuch, J. J. J., Roest, A. M., Nolen, W. A., Penninx, B. W. J. H., & de Jonge, P. (2014, March 1). Gender differences in major depressive disorder: Results from the Netherlands Study of Depression and Anxiety. Journal of Affective Disorders, 156, 156-163. Retrieved from http://www.jad-journal.com/article/S0165-0327(13)00849-5/fulltext

What is postpartum depression & anxiety? (n.d.). Retrieved from http://www.apa.org/pi/women/resources/reports/postpartum-depression.aspx