bởi Ban biên tập VMN   |   28-10-2018

kiểm duyệt bởi Chuyên Gia

Căn cứ khoa học
Căn cứ khoa học

Gan nhiễm mỡ là gì?   |   Nguyên nhân   |   Triệu chứng   |   Gan nhiễm mỡ độ 1   |   Độ 2   |   Độ 3   |   Chẩn đoán   |   Điều trị   |   Nên ăn gì?   |   Nên kiêng gì?   |   Phòng bệnh

Gan nhiễm mỡ là gì?   |   Nguyên nhân   |   Triệu chứng   |   Gan nhiễm mỡ độ 1   |   Độ 2   |   Độ 3   |   Chẩn đoán   |   Điều trị   |   Nên ăn gì?   |   Nên kiêng gì?   |   Phòng bệnh

Gan nhiễm mỡ hay còn gọi thoái hoá mỡ trong gan là tình trạng ứ đọng mỡ, mỡ cao hơn mức bình thường. Có thể không nhìn thấy triệu chứng trong giai đoạn đầu. Gan nhiễm mỡ được chia làm hai loại: nhiễm mỡ do cồn hoặc không do cồn. Mỗi loại có cách điều trị khác nhau.

Một số ca mắc gan nhiễm mỡ sau đó phát triển thành viêm gan, lâu dần biến chứng thành xơ gan, gây ra các mô sẹo và làm rối loạn chức năng gan.

Gan nhiễm mỡ thường có mối liên quan đến một loạt các chứng bệnh khác. Nhiều nhất là béo phì, tiếp đó là tăng huyết áp, tiểu đường và chỉ số cholesterol cao trong máu.

Đọc nhanh

  • Bệnh gan nhiễm mỡ phát sinh khi chất béo tích tụ trong gan >5%.
  • Phần lớn không nhìn thấy triệu chứng, nếu không phát hiện kịp thời, bệnh tình sẽ tiến triển lên mức độ nghiêm trọng hơn.
  • Nguyên nhân chính xác gây bệnh không thể xác định một cách rõ ràng, nhưng béo phì được cho là thủ phạm lớn nhất.
  • Khi áp dụng một chế độ ăn uống lành mạnh, cân bằng có hàm lượng đường và chất béo chuyển hóa thấp có thể giúp ngăn ngừa hoặc thậm chí đẩy lùi tình trạng nhiễm mỡ trong gan.
  • Bệnh nhân trong bất kỳ giai đoạn nào của bệnh cũng nên tránh uống dùng bia rượu hoặc chỉ nên uống một cách có kiểm soát.

Bệnh gan nhiễm mỡ là gì?

Gan nhiễm mỡ hay còn gọi gan thoái hoá mỡ là tình trạng ứ đọng mỡ trong gan, mỡ gan cao hơn mức bình thường.

Một lá gan lành mạnh chứa từ 3-5% lượng mỡ

  • Lượng mỡ tăng lên 5-10% được chẩn đoán là nhiễm nhẹ hay gan nhiễm mỡ độ 1
  • Lượng mỡ chiếm từ 10-25% được chẩn đoán là nhiễm ở mức độ cảnh báo hay gan nhiễm mỡ độ 2
  • Lượng mỡ vượt hơn 25% là tình trạng nhiễm mỡ nặng hay nhiễm mỡ độ 3

Tỷ lệ người bị gan nhiễm mỡ hiện không ngừng tăng.

Gan nhiễm mỡ là “dấu mốc” đầu tiên có nguy cơ cấp tiến lên chuỗi những bệnh gan mãn tính, nguy hiểm đến tính mạng. Không điều trị kịp thời sẽ dẫn đến suy gan, xơ gan, thậm chí ung thư gan.

Nguyên nhân

Không thể khẳng định một cách chính xác đâu là nguyên do gây bệnh nhưng nhìn chung có thể nói là do rối loạn chuyển hóa lipid, dinh dưỡng không hợp lý khiến chức năng gan mật không ổn định.

Gan nhiễm mỡ thường gặp ở người béo, ăn nhiều, ít vận động, bụng to, da mặt sạm, bia rượu thiếu kiểm soát.

Theo thống kê, béo phì là thủ phạm lớn nhất. Vì có đến 70% người béo phì bị nhiễm mỡ trong gan. Đối với người có cân nặng bình thường, con số này là 10-15%.

Bất kể trọng lượng của bạn là bao nhiêu, nếu để lượng mỡ bụng phát triển sinh sôi, nguy cơ nhiễm mỡ chắc chắn sẽ gia tăng.

Các nguyên nhân dẫn bệnh khác gồm có:

  • Bệnh tiểu đường
  • Cholesterol và mỡ máu cao
  • Huyết áp cao
  • Rối loạn chuyển hóa, sự kết hợp của những căn bệnh kể trên, khiến nguy cơ nhiễm mỡ gan tăng lên đáng kể

Có khoảng 40 đến 80% người mắc bệnh tiểu đường loại 2 bị gan nhiễm mỡ.

Các nhà nghiên cứu đã ngày càng tìm thấy nhiều bằng chứng hơn rằng, gan nhiễm mỡ có liên quan đến bệnh tim mạch (CVD) và bệnh thận mãn tính (CKD).

Điều này có nghĩa rằng, khả năng mắc bệnh tiểu đường và tim mạch vì thế cũng gia tăng theo khi mắc bệnh gan nhiễm mỡ.

Dù rằng tồn tại mối liên hệ mật thiết giữa gan nhiễm mỡ và chứng béo phì, nhưng cũng có khá nhiều trường hợp nhiễm mỡ gan mà không hề béo phì.

Điều này nói lên được gì?

Nó cho thấy rằng còn một vài nhân tố khác cũng có thể là tác nhân gây bệnh, bao gồm:

  • Ảnh hưởng từ gen
  • Thuốc lá
  • Tuổi già
  • Một số loại dược liệu khiến suy giảm chức năng gan, chẳng hạn như steroid và tamoxifen để điều trị ung thư
  • Giảm cân quá nhanh chóng
  • Nhiễm trùng, chẳng hạn như virút gây viêm gan
  • Tiếp xúc với độc tố

Tuy nhiên, nghiên cứu thống kê cho thấy mỡ thừa vẫn là nhân tố gây bệnh áp đảo.

Gan nhiễm mỡ đồng thời có tác động sâu sắc đến trẻ nhỏ hiện nay. Một cuộc khảo sát được công bố trong năm 2016 nói rằng nó ảnh hưởng từ 10-20% bệnh nhân nhi và lên đến 50-80% trẻ béo phì.

Các nhà khoa học dự đoán rằng:

“Trong vòng 10 năm tới, béo phì được dự báo sẽ trở thành nguyên nhân hàng đầu của các bệnh lý về gan, và là dấu hiệu cảnh báo cho nhu cầu ghép gan ngày một gia tăng ở trẻ em và thanh thiếu niên.”

Khoảng 25% bệnh nhân nhi bị nhiễm mỡ gan nặng sẽ tiến triển thành xơ gan trong vòng 10 năm. Tỷ lệ này thậm chí cao hơn ở trẻ béo phì.

Triệu chứng

bệnh gan nhiễm mỡ

Gan nhiễm mỡ thường xuất hiện cùng bệnh béo phì, tiểu đường và bệnh thận mãn tính.

Bệnh gan nhiễm mỡ rất khó điểm mặt trong giai đoạn đầu, bệnh thường diễn biến một cách thầm lặng.

Tuy nhiên, một số dấu hiệu chung sau đây có thể giúp bạn đề cao cảnh giác trước nguy cơ tiềm ẩn mắc gan nhiễm mỡ:

  • Mệt mỏi: bệnh nhân có biểu hiện  mệt mỏi, kiệt sức và thiếu năng lượng do chức năng gan suy giảm.
  • Buồn nôn, đầy bụng:  chức năng gan tổn thương nhẹ kéo theo cảm giác buồn nôn, đầy bụng, kèm theo mệt mỏi, chán ăn, nước tiểu sẫm màu, phân xám…
  • Ăn uống kém ngon: gan nhiễm mỡ khiến các chức năng chuyển hóa chất không còn tốt, chất dinh dưỡng hạn chế khiến không còn cảm giác ngon miệng.
  • Vàng da: nồng độ bilirubin trong máu tăng cao là nguyên nhân gây vàng da, vàng mắt.
  • Đau hạ sườn phải: đây là dấu hiệu gan nhiễm mỡ không mấy phổ biến tuy nhiên trong một sốt trường hợp gan nhiễm mỡ nặng, viêm gan hay căng gan sẽ khiến bệnh nhân bị đau tức vùng hạ sườn phải.

Nhìn chung, những biểu hiện gan nhiễm mỡ tương đối giống với triệu chứng của các bệnh lý về gan khác. Cần có sự chẩn đoán y tế để kết luận chính xác, phát hiện và điều trị thích hợp.

Bệnh phát triển đến  cấp độ nghiêm trọng kéo theo nguy cơ biến chứng thành viêm gan, xơ gan và mức độ nặng nhất vẫn là ung thư gan. Đây là những bệnh lý nguy hiểm với nguy cơ tử vong khá cao.

Gan nhiễm mỡ độ 1

Gan nhiễm mỡ độ 1 là khi lượng mỡ trong gan tăng lên và chiếm khoảng 5-10% tổng trọng lượng gan.

Đây là giai đoạn đầu của gan nhiễm mỡ và cũng là giai đoạn nhẹ, ít nguy hiểm và dễ chữa nhất. Điều đáng nói là hầu hết bệnh nhân đều không thể phát hiện ra bệnh trong giai đoạn này do các triệu chứng biểu hiện mờ nhạt.

Việc quan tâm chẩn đoán xét nghiệm máu thường niên là cần thiết. Tránh để bệnh tình tiến triển không hay biết dẫn đến tình trạng nhiễm mỡ gan ở các cấp độ nặng hơn.

Gan nhiễm mỡ độ 2

Gan nhiễm mỡ độ 2 là diễn biến tiếp theo sau độ 1 khi lượng mỡ trong gan vượt ngưỡng 10%, từ 10-20% tổng trọng lượng gan.

Vẫn chưa có nhiều dấu hiệu rõ rệt ở độ 2, người bệnh chỉ cảm giác cơ thể đôi lúc có mệt mỏi. Một vài dấu hiệu khác tuy có nhưng vẫn khó để liên hệ ngay:

  • Ăn khó tiêu
  • Cảm giác khó chịu vùng hạ sườn phải
  • Chán ăn, ngán dầu mỡ
  • Rối loạn tiêu hóa nhẹ

Đáng lưu ý là, khoảng cách từ gan nhiễm mỡ độ 2 đến gan nhiễm mỡ độ 3 (cấp độ nguy hiểm nhất) là vô cùng gần nhau. Lơ là trong việc điều trị sẽ dẫn đến bệnh tình chuyển biến nặng hơn.

Vì thế, khi phát hiện những dấu hiệu bên trên xuất hiện, tốt nhất nên đi làm chẩn đoán ngay.

Gan nhiễm mỡ độ 3

gan nhiễm mỡ

Gan thoái hóa dần khi bị nhiễm mỡ

Gan nhiễm mỡ cấp độ 3 là hậu quả từ việc không chữa trị kịp thời từ các cấp độ trước đó, kéo đến tình trạng lượng mỡ ứ đọng vượt quá 25% tổng trọng lượng gan.

Đây là cấp độ gan chịu tổn thương nặng, khả năng phục hồi lại như ban đầu là cực kì khó khăn. Bức thiết phải điều trị ngay tức khắc.

Ở giai đoạn này, các triệu chứng đã trở nên rõ nét và dễ dàng nhận thấy hơn.

  • Mệt mỏi uể oải
  • Rối loạn tiêu hóa như chán ăn, buồn nôn
  • Gan to, bao gan căng ra
  • Đau tức, nặng vùng hạ ngực phải
  • Bụng trướng
  • Vàng da

Tuy gan nhiễm mỡ nói chung được xem là căn bệnh lành tính, nhưng khi bước vào giai đoạn gan nhiễm mỡ độ 3, bệnh tình đã trở nên cấp bách. Khả năng biến chứng là rất cao.

Việc điều trị vào lúc này đã ít còn cơ hội chữa lành, thường thì chỉ giúp ngăn chặn bệnh tiến triễn.

Một khi biến chứng, gan nhiễm mỡ độ 3 có khả năng tiến triển lên một trong các căn bệnh mãn tính dưới đây:

  • Viêm gan: tình trạng tế bào gan bị hủy hoại, mất chức năng giải độc.
  • Xơ gan: đặc trưng bởi sự xơ hóa và hoại tử tế bào gan, hình thành nên những nốt bất thường tại gan.
  • Ung thư gan: biến chứng từ xơ gan gây ung thư gan ở, tồn tại nguy cơ tử vong.

Trước những mối đe dọa từ biến chứng gan nhiễm mỡ, người bệnh nên nhận thức sâu sắc khi mắc bệnh gan nhiễm mỡ dù trong giai đoạn nào để chữa trị kịp thời, tránh rủi ro gây thêm tổn hại nào lên gan.

Chẩn đoán

Giai đoạn đầu bệnh gan nhiễm mỡ không mấy xuất hiện các triệu chứng, việc phát hiện bệnh thường bắt nguồn từ việc khám xét nghiệm máu định kỳ.

Trường hợp nghi ngờ người đến khám bị nhiễm bệnh, bác sĩ thường sờ khám vùng bụng để xem có dấu hiệu sưng bất thường hay không.

Người bệnh tiếp tục được dò thăm về lối sống và chế độ ăn uống, hoặc có đang chạy chữa các bệnh khác, dùng thực phẩm chức năng hay thói quen bia rượu…

Nếu xét nghiệm phát hiện tổn thương gan cũng chưa thể ngay lập tức kết luận gan nhiễm mỡ, do khả năng nhiễm các chứng bệnh gan khác còn bỏ ngỏ, ví dụ nhiễm mỡ do cồn.

Chụp ảnh, chẳng hạn như siêu âm, CT và MRI có thể phát hiện độ mỡ trong gan.

Một phương pháp hiệu quả khác là sinh thiết gan, có thể chỉ ra mức độ tổn thương. Bác sĩ sử dụng kim để lấy mẫu mô từ gan.

Điều trị

Nền y học hiện nay chưa có thuốc chuyên dụng để điều trị trực tiếp bệnh gan nhiễm mỡ. Việc điều trị được xử lý theo từng bệnh án.

Lời khuyên thường gặp nhất tại các phòng khám thường khuyến khích bệnh nhân thay đổi lối sống, kiểm soát cân nặng, chú trọng chế độ ăn uống ngủ nghỉ.

Một lối sống lành mạnh và thể dục đều đặn chắc chắn giúp giảm nguy cơ mắc bệnh. Không những các bệnh lý về gan, mà còn là tiểu đường, tim mạch và thật nhiều chứng bệnh gây hại khác.

Bên cạnh đó, thực phẩm chức năng gan có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công cuộc hỗ trợ điều trị gan nhiễm mỡ hiệu quả.

Người bệnh gan nhiễm mỡ nên ăn gì?

gan nhiễm mỡ

Chế độ ăn với nhiều thực phẩm tươi sống có khả năng ngăn ngừa tổn thương gan.

Một số thực phẩm người bệnh gan nhiễm mỡ nên bổ sung vào chế độ ăn:

  • Tỏi: giúp giảm nhanh lượng mỡ trong gan và ngay cả mỡ máu, nên ăn tỏi mỗi ngày.
  • Rau xanh, trái cây: cung cấp nhiều vitamin và chất xơ. Người bệnh nên thường xuyên ăn các loại rau như: rau cải, súp lơ xanh, rau ngót, bắp cải,.. và ăn nhiều các loại trái cây có tính oxy hóa cao như: quả mọng, táo, cà chua,…
  • Các loại thảo dược thiên nhiên: có thể nấu uống như: lá chè xanh, hoa atiso, lá sen…
  • Bổ sung chất đạm: bổ sung chất đạm bằng cách ăn các loài cá nước ngọt, nước lợ giúp hạn chế lượng cholesterol trong máu và tích lũy mỡ trong gan.
  • Sử dụng dầu thực vật: dùng dầu thực vật thay cho mỡ động vật: dầu mè, dầu oliu, dầu đậu nành.

Người bệnh gan nhiễm mỡ nên kiêng ăn gì?

Bệnh nhân gan nhiễm mỡ nên hạn chế hoặc kiêng hẳn các thực phẩm sau đây:

  • Món ăn nhiều mỡ: nên thay thế các món chiên, xào bằng các món luộc, hấp để giảm lượng mỡ đưa vào cơ thể.
  • Nội tạng động vật: đây là dạng thực phẩm khiến hàm lượng cholesterol trong cơ thể tăng cao, tuyệt đối tránh xa không dùng.
  • Rượu bia: cồn trong rượu bia làm suy chức năng tế bào gan, khiến chúng dễ nhiễm mỡ trầm trọng hơn.

Phòng bệnh

Số ca mắc gan nhiễm mỡ ngày càng tăng do nhiều nguyên nhân: stress, béo phì… việc phòng tránh bệnh là hết sức cấp thiết

1. Ăn uống hợp lý

Nên ăn uống điều độ, đúng bữa, đúng giờ, đúng khẩu phần ăn, ăn ít vào buổi tối, đặc biệt là sau 19h.

Hạn chế các món chiên, xào, thức ăn nhanh (pate, xúc xích, gà rán…)

Ăn cá nhiều hơn thịt, và hải sản như tôm, cua, ốc để bổ sung chất đạm.

Chú trọng các thực phẩm giàu chất xơ như nấm, ăn uống nhiều các thực phẩm như chè xanh, bí đao, dầu đậu nành, đậu hà lan, cà chua, ớt vàng, rau cần tây, tỏi, chanh, cam, quýt, bưởi…

Hạn chế bia rượu thuốc lá.

2. Tăng cường vận động

Dành ít nhất 30 phút mỗi ngày để tập luyện nhất là đặc thù công việc ngồi nhiều hiện nay như nhân viên công sở. Cứ 30 phút nên vận động 5 phút để góp phần phòng bệnh gan nhiễm mỡ hiệu quả hơn.

3. Tăng sức đề kháng của cơ thể

Bổ sung đầy đủ cho cơ thể các loại vitamin, khoáng chất để tăng khả năng đề kháng cho cơ thể. Đơn giản vì chúng giúp bạn phòng bá bệnh chứ không riêng gì bệnh gan nhiễm mỡ.

4. Tránh sử dụng các loại thuốc gây hại cho gan

Tham vấn bác sĩ trước khi dùng thuốc để tránh những loại thuốc có thành phần gây hại cho gan như corticide, thuốc kháng ung thư, thuốc hocmon sinh dục nữ, thuốc amiodarone, methotrexate, diltiazem, tetracycline, thuốc kháng virus, glucocorticoids, tamoxifen,…

Có thể yêu cầu sự thay thế bằng những thuốc khác có tác dụng tương tự.

5. Kiểm tra sức khỏe định kỳ

Xét nghiệm máu: chỉ số cholesterol và mỡ trong máu định kỳ 6 tháng một lần để kịp thời phát hiện và điều trị.

6. Thường xuyên sử dụng các loại thực phẩm tốt cho gan

Việc sử dụng thường xuyên các thực phẩm mát gan, tăng cường giải độc cơ thể (atiso, râu bắp, trái bắp, trà thanh nhiệt, hạt sen, diệp hạ châu,…) hay những thực phẩm chức năng tốt cho gan theo hướng dẫn của bác sỹ sẽ giúp bạn có một lá gan khỏe mạnh để bảo vệ cơ thể và phòng ngừa căn bệnh gan nhiễm mỡ hiệu quả.

7. Điều chỉnh hợp lý cân nặng

Thừa cân, béo phì không chỉ là nguyên nhân gây bệnh gan nhiễm mỡ mà còn rất nhiều chứng bệnh khác. Nên duy trì cho mình một chỉ số cân nặng hợp lý tương ứng với chiều cao và có biện pháp giảm cân tích cực.

Tổng quan

Đa số các ca nhiễm mỡ gan thường không gây ra các vấn đề nghiêm trọng. Ở một mức độ nào đó, gan có khả năng tự chữa lành.

Các nhà nghiên cứu cảnh báo rằng gan nhiễm mỡ đang gia tăng ở cấp độ toàn cầu, và nếu tỷ lệ béo phì tiếp tục leo thang, rất có thể nó sẽ trở thành “một đại dịch”.

Mặc dù gan nhiễm mỡ không nguy hiểm, nói vậy chỉ đúng khi nó ở giai đoạn đầu, phát hiện và chữa trị kịp thời.

Có đến 10-25% bệnh  nhân gan nhiễm mỡ cấp tiến biến chứng thành xơ gan trong vòng 10 năm. Hậu quả gây ra những tổn hại không thể hồi phục lên gan.

Cách tốt nhất để điều trị và ngăn chặn nó hoàn toàn phụ thuộc vào xây dựng một lối sống lành mạnh, với một chế độ ăn uống đa dạng và cân bằng và tập thể dục thường xuyên.

Calzadilla Bertot, L., & Adams, L. A. (2016, May 20). The natural course of non-alcoholic fatty liver disease [Abstract]. International Journal of Molecular Sciences, 17(5):774. Retrieved from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/27213358

Chalasani, N., Younossi, Z., Lavine, J. E., Diehl, A. M., Brunt, E. M., Cusi, K., … Sanyal, A. J. (2012, June). The diagnosis and management of non-alcoholic fatty liver disease: Practice guideline by the American Association for the Study of Liver Diseases, American College of Gastroenterology, and the American Gastroenterological Association [Abstract]. American Journal of Gastroenterology, 107(6), 811-826. Retrieved from http://www.nature.com/ajg/journal/v107/n6/full/ajg2012128a.html

Fabbrini, E., Sullivan, S., & Klein, S. (2010, February). Obesity and nonalcoholic fatty liver disease: Biochemical, metabolic, and clinical implications. Hepatology, 51(2), 679-689. Retrieved from http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3575093/

Fatty liver disease (nonalcoholic steatohepatitis). (2014, May). Retrieved from http://www.niddk.nih.gov/health-information/health-topics/liver-disease/nonalcoholic-steatohepatitis/Pages/facts.aspx

Fatty liver disease (nonalcoholic steatohepatitis). (2014, May). Retrieved from https://transplant.surgery.ucsf.edu/conditions–procedures/fatty-liver-disease-(nonalcoholic-steatohepatitis).aspx

Fatty liver disease. (2017, October 10). Retrieved from https://medlineplus.gov/fattyliverdisease.html

Fotbolcu, H., & Zorlu, E. (2016, April 28). Nonalcoholic fatty liver disease as a multi-systemic disease. World Journal of Gastroenterology, 22(16), 4079-4090. Retrieved from http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4837427/

Hassan, K., Bhalla, V., Ezz El Regal, M., & A-Kader, H. H. (2014, September 14). Nonalcoholic fatty liver disease: A comprehensive review of a growing epidemic. World Journal of Gastroenterology, 20(34), 12,082-12,101. Retrieved from http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4161796

Herrine, S. K. (2016, May). Nonalcoholic steatohepatitis (NASH). Retrieved from http://www.merckmanuals.com/professional/hepatic-and-biliary-disorders/approach-to-the-patient-with-liver-disease/nonalcoholic-steatohepatitis-nash

Machado, M. V., & Cortez-Pinto, H. (2014, September 28). Non-alcoholic fatty liver disease: What the clinician needs to know. World Journal of Gastroenterology, 20(36), 12,956-12,980. Retrieved from http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4177476/

Marchesini, G., Moscatiello, S., Di Domizio, S., & Forlani, G. (2009, January 14). Obesity-associated liver disease. The Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism, 93(11, supplement 1), S74-80. Retrieved from http://press.endocrine.org/doi/10.1210/jc.2008-1399

Non-alcoholic fatty liver disease. (2015, January 14). Retrieved from http://www.liverfoundation.org/abouttheliver/info/nafld/

Non-alcoholic fatty liver disease (NAFLD). (2016, January 27). Retrieved from https://www.nhs.uk/conditions/non-alcoholic-fatty-liver-disease/

Obika, M., & Noguchi, H. (2011, June 22). Diagnosis and evaluation of nonalcoholic fatty liver disease. Experimental Diabetes Research. Retrieved from https://www.hindawi.com/journals/jdr/2012/145754/  

Symptoms of cirrhosis. (2017, July 3). Retrieved from https://www.nhs.uk/Conditions/Cirrhosis/Pages/Symptoms.aspx

Temple, J. L., Cordero, P., Li, J., Nguyen, V., & Oben, J. A. (2016, June). A guide to non-alcoholic fatty liver disease in childhood and adolescence. International Journal of Molecular Sciences, 17(6), 947. Retrieved from http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4926480/

Lazo, M., Hernaez, R., Eberhardt, M. S., Bonekamp, S., Kamel, I., Guallar, E., … Clark, J. M. (2013, July 1). Prevalence of Nonalcoholic Fatty Liver Disease in the United States: The Third National Health and Nutrition Examination Survey, 1988–1994. American Journal of Epidemiology, 178(1):38-45. Retrieved from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/23703888 

Fingas, C. D., Best, J., Sowa, J.-P., & Canbay, A. (2016), Epidemiology of nonalcoholic steatohepatitis and hepatocellular carcinoma. Clinical Liver Disease, (8), 119–122. doi:10.1002/cld.585. Retrieved from http://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1002/cld.585/full

Williams, C. D., Stengel, J., Asike, M. I., Torres, D. M., Shaw, J., Contreras, M., … Harrison, S. A. (2011, January). Prevalence of nonalcoholic fatty liver disease and nonalcoholic steatohepatitis among a largely middle-aged population utilizing ultrasound and liver biopsy: a prospective study. Gastroenterology (140), 124–131. Retrieved from https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/20858492